* Cuộc đời:- Quê quán: làng Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định
- Xuân Diệu lớn lên ở Qui Nhơn. Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư và làm viên chức ở Mĩ Tho (nay là Tiền Giang), sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn, là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn (1938–1940). Ông tốt nghiệp cử nhân Luật 1943 và làm tham tá thương chánh ở Mỹ Tho một thời gian trước khi chuyển về ở Hà Nội.
- Xuân DIệu tham gia CM từ rất sớm và đã tham gia tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội. Ông là Đại biểu Quốc hội khóa I (1946) và sau này tiếp tục ở khóa II và III, Năm 1947, Công tác tại Đài Phát Thanh VN, Năm 1949, kết nạp Đảng.
- 1957 - 1965, ông là 1 trong những ủy viên của BCH Hội nhà văn VN.
- 1983, ông được bầu làm viện sĩ thông tấn của Viện hàn lâm nghệ thuật CHDC Đức.
Ông mất vào năm 1985, 18/12/1985 trong một cơn đau tim đột ngột tại bệnh viện Hữu Nghị Việt - Xô. Ông qua đời trong sự thương tiếc kính trọng trong lòng của đọc giả và bè bạn của ông. Trong bài điếu văn đọc tại lễ truy điệu của Xuân Diệu, ông Hà Xuân Trường có viết: " Một cây lớn ngã xuống, cả khoảng trời trống vắng".
* Sự nghiệp sáng tác:
*Trước CMT 8:
Nội dung: Thơ ông thời kỳ này dường như có 2 tâm trạng - một nhà thơ rất yêu đời, rất tha thiết với cuộc sống, sống yêu đời, sống hối hả ( Vội vàng, Yêu, Hư vô, Nụ cười xuân, Giục giã, Xuân không mùa...) nhưng đồng thời còn là một người thể hiện sự chán nản, hoài nghi, sự cô đơn ( Lời kỷ nữ, Chiều, Tương tư chiều).
Sự nghiệp văn học của Xuân Diệu diễn ra theo hai giai đoạn chính:
Xuân Diệu sáng tác cả thơ lẫn văn.
a. Về thơ: Thành tựu nổi bật với các tập Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945)
- Lúc này, thơ Xuân Diệu luôn rạo rực tình yêu đôi lứa, yêu cuộc sống với muôn ngàn thanh sắc. Thơ ông luôn “vội vàng”, “giục giã” tận hưởng tình yêu và vẻ đẹp của tự nhiên, sa đắm, nồng nàn, vồ vập mà vẫn bơ vơ cô đơn. Đó là đặc điểm thơ tình Xuân Diệu trong cuộc đời cũ.
- Thơ Xuân Diệu đổi mới nhiều trong cảm nhận và diễn đạt. Tiếp nhận thơ lãng mạn Pháp, thơ của ông bộc lộ và khẳng định rõ cái “tôi” đồng thời vẫn học hỏi ở phương Đông cổ xưa. Vì vậy thơ Xuân Diệu mang những cảm nhận tinh vi, tinh tế của lòng người, của cảnh sắc thiên nhiên. Thơ Xuân Diệu tạo đựơc nhiều hình ảnh mới với cách kết hợp từ lạ.
Có thể đưa vài ví dụ
- Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
- Lá liễu dài như một nét miÔng đựơc coi là nhà thơ “mới nhất trong làng nhà thơ mới”.
b. Về văn: Hai phật Phấn thông vàng (1939) và Trường ca (1945) có nhiều dòng văn đẹp, mượt mà, trữ tình như thơ.
*Sau CMT 8:
a. Về thơ: Nhiều tập nối tiếp nhau ra đời thể hiện năng lực và bút mực của Xuân Diệu: Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau – Cà tay (1962), Một khối hồng (1964), Tôi giàu đôi mắt (1970).
Thơ Xuân Diệu sau cách mạng là tiếng hát ca ngợi cuộc sống xây dựng và chiến đấu, sự hòa hợp “riêng –chung” giữa thi sĩ và nhân dân, Tổ quốc. Ông khẳng định chân thành:
Tôi sống với cuộc đời chiến đáu
Của triệu người yêu dấu, gian lao.
Ngoại giọng điệu trữ tình là chủ đạo thì Xuân Diệu còn có thể hiện giọng chính luận và trào phúng đả kích.
b. Về văn: Nhiều tập tiểu luận phê bình có giá trị (ví dụ: Dao có mài mới sắc (1963), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (2 tập 1981-1982)…
3. Non nửa thế kỷ sáng tác, Xuân Diệu thực sự là nhà thơ lớn của dân tộc ta. Riêng về mặt thơ tình, ông xứng đáng với lời thơ Khương Hữu Dụng “một thế hệ yêu -tỏ tình qua thơ Xuân Diệu”




Bấm vào để xem ký hiệu :) =( :s :D :-D ^:D ^o^ 7:( :Q :p T_T @@, :-a :W *fck* x@